Montessori 101:
Một số thông tin cơ bản mà mọi Phụ huynh Montessori nên biết
Do Tim Seldin, Chủ tịch Hiệp
hội Montessori viết
Mỗi năm có hàng ngàn trẻ em bắt đầu nhập học
tại các trường Montessori trên toàn thế giới. Phụ huynh của chúng hỏi “Không
biết Montessori là cái gì?” Câu hỏi của họ khá nhiều, vì các trường Montessori
thường rất khác với các trường mà hầu hết chúng ta đã học hồi còn trẻ.
Những người đã trải qua vài năm với các em
học ở Montessori biết Montessori có hoạt động! Các phụ huynh mới đến với
Montessori cần phải chọn lọc giữa các ấn tượng mâu thuẫn nhau. Khi bạn bè yêu
cầu họ kể về ngôi trường Montessori mới của con em họ, hầu hết phụ huynh thật
sự không biết phải bắt đầu từ đâu.
“Mọi
thứ đều rất đẹp khi chúng tôi viếng trường mùa xuân rồi. Nhưng nói thật, hầu
hết những gì nhà trường nói với chúng tôi về hoạt động của Montessori đều bay
đâu mất! Cuối cùng, tôi chẳng còn nhớ gì nhiều, chỉ là những chuyện về mặt bằng
phát triển, giai đoạn nhạy cảm và các môi trường được chuẩn bị. Và những từ để
gọi các giáo viên Samantha? Có phải là “directresses”, “mentors,”
“facilitators,” hoặc họ là “guides”? Ôi trời, tôi không biết họ có dạy học bao
giờ không?”
Mọi thứ đều có vẻ hết sức phức tạp, đặc biệt
khi người ta có nhiều ấn tượng khác nhau về Montessori. Một số ca ngợi nó,
trong khi những người khác nghĩ rằng chắc là bạn điên mới gửi con vào trường
Montessori. Một số người cho rằng Montessori quá cứng rắn và nó cướp đi sự sáng
tạo của các em, những người khác cho rằng nó hoàn toàn không có cấu trúc và
không có tiêu chuẩn giáo dục nào.
“Montessori
có phải là loại trường cho phép trẻ em làm bất kỳ những gì chúng muốn hay
không? Có lẽ nó hợp với Sally của bạn, nhưng tôi e rằng nếu thằng Danny của tôi
được bỏ với mớ dụng cụ của nó, nó sẽ chẳng đụng tới thứ gì! Nó cần mệnh lệnh,
cơ cấu, một lớp học nhỏ, và kỷ luật!”
Trong hơn ba mươi năm, tôi đã cố gắng giúp
các phụ huynh giải quyết tất cả chuyện này để họ tin rằng Montessori không để
con em của họ bị khiếm khuyết về giáo dục và không thể sống với thế giới thật.
Vẫn không dễ đưa Montessori vào ngữ cảnh khi phần thế giới còn lại dường như
gắn bó với một phương pháp nuôi dưỡng trẻ em hoàn toàn khác.
Montessori 101 được viết để giúp các phụ
huynh bắt đầu khám phá và xác định trẻ em Montessori biết những gì—Montessori
có làm việc!
--Tim
Seldin, Chủ tịch Hiệp hội Montessori
Hình
ảnh trong bài viết này được chụp ở trường Montessori Anderson ở Anderson,SC
Gương mặt Đa dạng của Montessori ở
Bắc Mỹ
Có
khoảng 4.000 trường Montessori ở Hoa Kỳ và Canada và hàng ngàn trường nữa trên
toàn thế giới. Có thể thấy các trường Montessori trên khắp châu Âu, Trung và
Nam Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, và nhiều nước châu Á.
Sự
mở rộng ở nhiều nước như Hà lan, Anh quốc, Ái nhĩ lan, Ấn độ, Sri Lanca, Hàn
quốc, Nhật, và bắt đầu bùng nổ ở Đông Âu, các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô
viết trước đây, và Trung quốc.
Có sự đa dạng rất lớn trong cộng đồng các
trường Montessori. Mặc dù ấn tượng các trường Montessori giống nhau, có lẽ
giống như một cơ sở của McDonald, không có hai trường Montessori nào giống hệt
nhau.
Trên toàn Hoa Kỳ và Canada, chúng ta có thể
thấy các trường Montessori trong hầu hết các cộng đồng. Có thể thấy chúng ở
tầng hầm của nhà thờ, một kho thóc được sửa sang lại, trung tâm mua sắm, các
trường công lập cũ, và ở các khu trường rộng với hàng trăm trẻ em theo học và
biểu hiện của sự phát triển và ổn định.
Chúng ta có thể thấy chúng ở ngoại ô và hệ
thống trường công lập trong thành phố. Chúng ta thường thấy các trường
Montessori trong những ngôi nhà xinh đẹp—kết quả của quan điểm riêng của chủ
nhà/giám đốc. Nhiều trường xuất hiện trong các cộng đồng giàu có, nhưng nhiều
trường phục vụ cho tầng lớp công nhân và người nghèo. Chúng ta có thể thấy
Montessori trong các chương trình Head Start, trung tâm chăm sóc trẻ em trong
thành phố chúng ta, các trại của công nhân nhập cư, các lãnh địa của người da
đỏ.
Một số trường Montessori tự hào vẫn giữ được
quan điểm ban đầu của tiến sĩ Maria Montessori, trong khi những trường khác có
các điều chỉnh khá linh động và thực dụng. Mỗi trường phản ánh các tiện nghi,
chương trình, tính cách độc đáo riêng, và thể hiện quan điểm của tiến sĩ
Montessori.
Hầu hết các trường Montessori bắt đầu với trẻ
ba tuổi và mở rộng đến các lớp tiểu học. Mỗi năm lại có thêm các trường mở các
chương trình trung gian ở một đầu; chương trình cho trẻ chập chững đi ở một đầu
khác.
Các trường Montessori cung cấp nhiều loại
chương trình. Nhiều chương trình tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của gia
đình lao động. Các chương trình khác tự mô tả như là những chương trình chuẩn
bị cho đại học. Các chương trình Montessori công cộng tự hào phục vụ tất cả trẻ
em, trong khi các trường độc lập cố gắng tìm sự kết hợp hoàn hảo giữa học sinh,
trường và các giá trị gia đình. Hiệp hội Montessori và Ủy ban Montessori Quốc
tế tôn vinh sự đa dạng giữa các trường Montessori. Vì mỗi trẻ là duy nhất, nên
các trường chúng tôi tạo cũng có phụ huynh và giáo viên duy nhất.
Điều gì khiến cho các trường Montessori khác
biệt?
Các trường Montessori
không hoàn toàn khác các trường khác. Trong thế kỷ vừa qua, các ý tưởng của
tiến sĩ Maria Montessori đã tạo ra một ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi về giáo
dục trên toàn thế giới. Tuy nhiên, trong khi những yếu tố riêng biệt của chương
trình cô ấy đang đi vào các lớp học hàng năm, có một ảnh hưởng mà chúng ta thấy
khi các trường thực hiện đầy đủ mô hình Montessori để tạo ra một thứ hoàn toàn
khác biệt.
Đây là một vài điểm chính để cân nhắc khi bạn
nhìn các trường Montessori gần hơn:
Các trường Montessori bắt đầu bằng sự tôn
trọng sâu sắc các em như một cá thể duy nhất. Họ làm việc với sự quan tâm sâu
sắc cho sự phát triển tình cảm và xã hội.
Các trường Montessori là những cộng đồng học
sinh, giáo viên và phụ huynh nồng nhiệt và sẵn sàng hỗ trợ. Các em không bị lạc
giữa đám đông!
Montessori nghiêm túc dạy các em sự tử tế và
hòa bình.
Các lớp học Montessori là những môi trường
học tập trong sáng và thú vị.
Các lớp Montessori tập trung các em ở những
độ tuổi khác nhau, thay vì chỉ có những em ở cùng độ tuổi. Thông thường chúng
hòa trộn ba độ tuổi. Các em sẽ ở với giáo viên trong ba năm. Điều này cho phép
giáo viên phát triển quan hệ sát và lâu dài với học sinh, cho phép họ biết rõ
từng cách học tập của trẻ, và khuyến khích ý thức cộng đồng mạnh mẽ giữa các
em. Hàng năm lại có thêm những trường không phải của Montessori áp dụng chiến
lược có hiệu quả cao này.
Các lớp Montessori không chỉ được điều hành
bởi giáo viên. Học sinh được dạy cách quản lý cộng đồng của chúng và phát triển
kỹ năng lãnh đạo phi thường và tính độc lập.
Montessori cho rằng các em được sinh ra thông
minh, chúng chỉ cần học theo những cách khác nhau và tiến bộ theo tốc độ riêng.
Phương pháp giáo dục của Montessori được thiết kế để nhận biết và thực hiện
những cách học khác nhau, giúp học sinh học một cách hiệu quả nhất. Học sinh
tiến bộ khi nắm vững các kỹ năng mới, tiến lên thật nhanh khi chúng sẵn sàng.
Học sinh Montessori ít khi dựa vào văn bản và
sách vở. Tại sao? Vì nhiều kỹ năng và khái niệm mà học sinh học là trừu tượng,
và văn bản không đưa chúng vào cuộc sống. Đồng thời khi đọc, nhiều bài đọc thật
sự không hay và chỉ là những câu chuyện và tiểu luận gượng ép; thay vào đó,
Montessori dựa vào các tài liệu cụ thể và thư viện Montessori là nơi mà học
sinh được giới thiệu các tài liệu văn chương và tham khảo tốt nhất.
Việc học không tập trung vào việc học thuộc
lòng và ghi nhớ. Mục tiêu là phát triển học sinh theo hướng thật sự hiểu công
việc ở trường của chúng.
Học sinh Montessori học qua kinh nghiệm cụ
thể, sự điều tra, và nghiên cứu. Chúng tích cực tham gia vào việc học, thay vì
thụ động chờ được đút ăn.
Montessori thử thách và đặt ra các mong đợi
cao ở tất cả học sinh, không chỉ ở các em được cho là “có năng khiếu”.
Học sinh phát triển tính kỷ luật và ý thức
bản thân về mục đích và động cơ. Sau khi tốt nghiệp ở Montessori, các giá trị
này sẽ hỗ trợ tốt cho chúng ở trung học, đại học và cuộc sống sau này.
Các trường Montessori thường phản ánh sự đa
dạng của học sinh, và chương trình giảng dạy khuyến khích sự tôn trọng lẫn nhau
và viễn cảnh toàn cầu.
Học sinh phát triển tình yêu với thế giới tự
nhiên. Khoa học tự nhiên và giáo dục ngoài trời là yếu tố quan trọng cho kinh
nghiệm của trẻ.
Chương trình giảng dạy Montessori được cấu
trúc và tích hợp cẩn thận để minh họa sự gắn kết giữa các môn học khác nhau.
Mọi lớp đều dạy cách suy nghĩ, tổng hợp và nghiên cứu. Các bài học lịch sử liên
kết kiến trúc, vẽ, khoa học và kỹ thuật.
Học sinh học cách quan tâm lẫn nhau qua sự
phục vụ cộng đồng.
Các giáo viên Montessori tạo sự thuận tiện
cho học tập, hướng dẫn học sinh và xem chúng như những người bạn và nhà cố vấn.
Học sinh học cách không sợ mắc lỗi; chúng
nhìn vào lỗi như những bước tự nhiên trong quy trình học tập.
Học sinh Montessori học cách hợp tác và cùng
làm việc trong học tập và trong những dự án chính. Chúng cố gắng làm tốt nhất,
thay vì cạnh tranh lẫn nhau để đạt điểm cao nhất trong lớp.
Một
ngày trong cuộc sống của Học sinh Montessori
Lúc 7g05, trời còn tối vào buổi sáng giữa mùa
đông khi Jeanne Saunders chạy đến vòng tròn đưa đón của trường Montessori, nơi
ba đứa con của cô theo học từ khi chúng lên hai.
Jeanne đã đi như vậy trong nhiều năm và cảm
thấy ngôi trường như căn nhà thứ hai của mình. Cô làm việc trong thành phố và
chỉ xong việc sau năm giờ. Chồng cô dạy ở một trường công lập và ra đi sớm hơn
nhiều. Anh sẽ đón các con vào khoảng 4g30, nhưng nếu anh bị trễ, anh biết rằng
chúng vẫn ổn cho đến khi anh đến. Nhà trường tự hào là một người bạn của gia
đình, và các gia đình lao động biết ơn việc mở rộng thời gian và trại hè.
Teddy, Josh và Jennifer nghĩ một cách chắc
chắn rằng trường là gia đình thứ hai của chúng. Jennifer là một trong những đứa
trẻ sau khi học mười năm ở Montessori, nói về trường của mình với sự yêu mến và
thuyết phục. Khách viếng thường thấy cô đến không một chút ngập ngừng để chào
đón họ và mời họ một tách cà phê hoặc đi tham quan trường. Khi mọi người hỏi cô
có thích Montessori không, cô mỉm cười trả lời:”Dĩ nhiên rồi, làm sao lại không
yêu nơi này được. Giáo viên là những người bạn tốt nhất, công việc thật thú vị,
và những đứa trẻ khác cũng giống như anh chị em của mình. Đây là một gia đình.
Bạn cảm thấy thật sự gần gũi với mọi người.”
Jennifer dắt Teddy, bốn tuổi, và Josh, lên
bảy, đến cuộc cố vấn buổi sáng. Sau đó, cô bé đi xuống đồi về phía Upper
School, nơi cô học lớp bảy. Cô nhập bọn với hai người bạn, ngồi nói chuyện nhỏ
nhẹ, chờ cho giờ học bắt đầu.
Buổi cố vấn sáng của Teddy xảy ra trong lớp
học bình thường của cậu bé. Sau khi treo áo khoác, cậu đi về phía Judy, nhân
viên phụ trách phòng cho đến khi phòng bắt đầu hoạt động lúc 8g30. Cậu bé hỏi
xem có gì để ăn không. Judy đề nghị cậu bé tự lấy thức ăn. Cậu múc một chén bột
ngũ cốc từ một bình nhỏ và chế sữa vào. Cậu bé mang thức ăn sáng đến bàn và
ngồi ăn. Các em và phụ huynh vào phòng này rất thường xuyên, và dần dần số trẻ
trong chương trình buổi sáng tăng lên đến 15.
Sau khi ăn sáng, Teddy đi đến giá vẽ và bắt
đầu vẽ với Teresa, một cô bé lên ba, mới tham gia lớp vài tuần. Chúng im lặng
vẽ, nói chuyện vu vơ với nhau. Lát sau, Teddy chán vẽ nên xóa đi. Cậu bé nghĩ
đến chuyện rời khỏi giá vẽ mà không dọn dẹp, nhưng rồi cậu lại lau chùi cẩn
thận và cất dụng cụ như đã được học hơn hai năm ở Montessori.
Đến 8g30, hai giáo viên của cậu bé đến, cùng
với một số em nữa. Những đứa khác đi vào cho đến khi tất cả 30 học sinh và hai
giáo viên di chuyển quanh căn phòng.
Các em ở Montessori làm việc với các dụng cụ
học tập cụ thể và làm cho những khái niệm trừu tượng trở nên rõ ràng và cụ thể.
Họ cho phép các học sinh nhỏ phát triển một khái niệm rõ ràng về toán, chẳng
hạn một ngàn lớn bao nhiêu, chúng ta muốn nói gì ở cột “hàng trăm”, và điều gì
xảy ra khi chúng ta chia một trăm cho một số khác. Phương pháp này có ý nghĩa
đối với các em.
Mặc dù đây là nền tảng của việc học theo kinh
nghiệm cụ thể, các hoạt động trong toán học, như cộng, trở nên rõ ràng và cụ
thể, giúp trẻ nhập tâm một cách rõ ràng về sự hoạt động của quy trình.
Teddy và một đứa khác bắt đầu cùng làm việc
để giải một bài toán. Sử dụng các thẻ số, mỗi em quyết định bao nhiêu đơn vị,
hàng chục, hàng trăm, và hàng ngàn để thêm vào. Các thẻ hiển thị các đơn vị từ
1 đến 9 được in màu xanh lá; những thẻ hiển thị số từ 10 đến 90 được in màu
xanh lam; hàng trăm từ 100 đến 900 được in mực đỏ, và các thẻ hiển thị số từ
1000 đến 9000 lại được in màu xanh lá, vì chúng tượng trưng các đơn vị hàng
ngàn.
Khi Teddy và bạn xây dựng các con số, chúng
quyết định cần bao nhiêu đơn vị, tìm thẻ hiển thị số lượng đó, và đặt nó vào
góc trên bên phải của không gian làm việc. Sau đó chúng đi đến ngân hàng, một
bộ sưu tập trung tâm các hạt kim loại giống như vàng, và tập trung số hạt tương
ứng với thẻ số đã chọn. Quy trình này được lập lại với hàng chục, hàng trăm và
hàng ngàn.
Hai số thêm vào được kết hợp trong quy trình
được gọi là cộng. Bắt đầu bằng hàng đơn vị, các em đếm số lượng được kết hợp để
xác định kết quả cộng của cả hai. Nếu kết quả là chín hoặc nhỏ hơn, chúng chỉ
cần tìm số thẻ lớn tượng trưng cho câu trả lời. Nếu phép cộng có kết quả mười
hạt hoặc hơn, các em ngừng đếm ở mười và mang những hạt đơn vị này đến ngân
hàng để đổi một thanh mười: mười đơn vị bằng một đơn vị mười. Quy trình này
được lập lại với hàng chục, hàng trăm và hàng ngàn.
Bây giờ đã mười giờ, và Teddy hơi đói bụng.
Cậu bé đi về phía bàn ăn và lấy vài miếng cần tây quết bơ đậu phọng. Cậu pha
một ly nước táo, cầm chiếc bình nhỏ, vừa với bàn tay nhỏ bé của cậu. Xong, cậu
bé lau chỗ ngồi.
Việc dọn chỗ ngồi ăn khiến Teddy muốn lau
chùi một thứ gì đó, và cậu bé chọn việc lau bàn. Cậu lấy thùng, chiếc bình nhỏ,
bọt biển, bàn chải, khăn, và xà phòng cần thiết và tiến hành chà chiếc bàn nhỏ
một cách chầm chậm và đúng phương pháp. Khi làm việc, cậu nghĩ rằng bàn chải và
xà phòng tạo bọt xà phòng trên mặt bàn. Teedy cất lại mọi thứ vào chỗ chứa. Khi
cậu bé xong việc, chiếc bàn khá sạch và khô. Một đứa trẻ bốn tuổi lau bàn vì
thích công việc đó; việc chiếc bàn sạch hơn chỉ là ngẫu nhiên. Điều Teddy học
được là ý thức về trật tự, ý thức lớn hơn về tính độc lập, khả năng tập trung
cao hơn và theo các bước phức tạp.
Teddy di chuyển tự do trong lớp, chọn các
hoạt động mà cậu bé thích. Với ý thức thật sự, Teddy và các bạn trong lớp chịu
trách nhiệm chăm sóc môi trường tuổi thơ này. Khi chúng đói, chúng tự lấy thức
ăn và thức uống.
Chúng vào nhà tắm mà không cần giúp đỡ. Khi
nước tràn, chúng giúp nhau lau chùi mọi thứ cẩn thận. Chúng tôi thấy các em cắt
trái cây và rau cải, quét dọn, hút bụi, lau cửa sổ. Chúng sắp xếp bàn, tự cột
giày, đánh bóng đồ bạc, và phát triển vững chắc với sự tự tin và độc lập. Lưu ý
rằng cây cối cần nước, Teddy mang nước đi tưới cây, ít khi làm rơi một giọt.
Bây giờ là 11g, và một giáo viên của cậu,
Ann, đến hỏi cậu buổi sáng diễn ra như thế nào. Họ nói chuyện về những niềm say
mê mới nhất của cậu bé, rồi Ann đề nghị cậu đọc một bài đọc khác.
Cô và Teddy ngồi xuống một tấm thảm nhỏ với
vài tấm bản trên đó có các chữ cái được can lên giấy nhám. Ann chọn một thẻ và
từ từ can thành chữ d, cẩn thận phát
âm chữ cái đó: duh, duh, duh. Teddy
đồ lại chữ cái với bàn tay nhỏ xíu và lập lại âm thanh theo giáo viên.
Teddy không biết đó là chữ d, nên trong
khoảng năm sau, cậu bé chỉ gọi nó bằng cách phát âm: duh. Theo cách này, cậu bé không cần học quy trình chuyển từ tên
chữ cái d sang âm thanh nó tạo ra, duh. Tiếp tục với hai hoặc ba chữ nữa,
Ann từ từ giúp Teddy xây dựng một bộ sưu tập chữ cái mà cậu bé biết qua cách
phát âm.
Ann dẫn Teddy qua quy trình ba bước. “Teddy,
đây là duh. Em có thể nói duh không? Tuyệt lắm! Bây giờ là buh (chữ b). Teddy, em có thể chỉ cho cô chữ duh không? Em có thể cho cô chữ buh
không? Tốt. Được rồi. Đây là gì (đưa lên một trong các chữ cái vừa giới
thiệu)?”
Teddy trả lời, và quy trình đó tiếp tục trong
vài phút nữa. Toàn bộ bài học thật ngắn, chỉ khoảng 15 phút. Sau đó, Teddy sẽ
bắt đầu đặt các âm với nhau để tạo các từ ba chữ cái đơn giản.
Ngày của Teddy tiếp tục giống như buổi sáng.
Cậu bé ăn trưa với lớp lúc 11g45, sau khi đã đi với các bạn ra ngoài để chơi
đùa trong tuyết. Sau bữa trưa, giáo viên người Tây ban nha sẽ vào lớp và bắt
đầu làm việc với các nhóm học sinh nhỏ. Lát sau, cô vỗ nhẹ lên vai Teddy và hỏi
cậu bé có muốn học với cô không. Cậu bé mỉm cười, nhưng lịch sự từ chối. Cậu bé
đang bị cuốn hút với dự án đã chọn.
Sau buổi trưa cậu bé vẽ thêm một ít nữa, nghe
một đoạn nhạc ba-lê Nutcracker, làm
việc với các tên hình trong ngăn địa lý, và hoàn tất bản đồ ráp của nước Hoa
Kỳ.
Khi hết ngày, Teddy đã hoàn tất 20 đến 30
hoạt động khác nhau, hầu hết nằm trong chương trình giảng dạy cao cấp cho một
đứa bé mới lên bốn cách đó hai tháng. Nhưng khi bố cậu bé đến đón lúc 4g50, cậu
trả lời cho câu hỏi thường lệ “Hôm nay ở trường con làm gì” không khác với
nhiều em khác “Ồ, con không biết. Con đoán con đã làm rất nhiều việc!”
Tiến sĩ Montessori: Một Viễn cảnh Lịch sử
“Để giúp đỡ cuộc sống, hãy để nó tự do, tuy nhiên; để mở
nó, đó là công việc cơ bản của giáo viên.
Chỗ của
chúng tôi là dành cho trẻ em, không phải là một trường học thật sự. Chúng tôi
đã chuẩn bị một nơi cho trẻ em, nơi một nền văn hóa lộn xộn có thể được đồng
hóa, mà không cần hướng dẫn trực tiếp…Những đứa trẻ này học cách đọc và viết
trước khi lên năm, và không ai cho chúng bài học nào. Lúc đó thật kỳ diệu khi
các em bốn tuổi rưỡi biết viết, và chúng đã học với cảm giác là chưa được dạy.
Chúng
tôi bối rối về chuyện đó một thời gian dài. Chỉ sau các thí nghiệm lập đi lập
lại, chúng tôi mới kết luận chắc chắn rằng tất cả các em đều có khả năng “hấp
thu” văn hóa. Nếu điều này đúng—chúng tôi đã tranh luận—nếu văn hóa có thể được
tiếp thu không cần nỗ lực, chúng ta hãy cung cấp cho các em các yếu tố văn hóa
khác. Sau đó chúng tôi thấy chúng “hấp thu” nhiều hơn đọc và viết: thực vật
học, động vật học, toán, địa lý, và tất cả một cách dễ dàng, tự ý và không mệt
mỏi.
Và vì
thế chúng tôi khám phá ra rằng giáo dục không phải là điều giáo viên làm, mà là
một quy trình tự nhiên phát triển một cách tự phát ở con người. Nó không phải
từ cách lắng nghe từ ngữ, mà từ những kinh nghiệm hành động của trẻ trong môi
trường. Công việc của giáo viên không phải là nói, mà là chuẩn bị và sắp xếp
các hoạt động văn hóa trong một môi trường đặc biệt dành cho trẻ.
Các thí
nghiệm của tôi, được thực hiện ở nhiều nước khác nhau, bây giờ đã được hơn bốn
mươi năm (Ghi
chú của biên tập viên: bây giờ đã hơn chín mươi năm), và khi các em lớn lên,các
phụ huynh đã yêu cầu tôi mở rộng phương pháp đến các tuổi lớn hơn. Sau đó chúng
tôi thấy rằng hoạt động riêng rẽ là một yếu tố kích thích và tạo sự phát triển,
và điều đó không chỉ đúng với các em nhỏ chưa đi học mà còn đúng với các học
sinh nhỏ, trung bình và lớn.
--Tiến sĩ Maria Montessori The Absorbent Mind
Maria Montessori là một người nổi tiếng trong
ngành giáo dục ngày nay cũng như cách đây nửa thế kỷ. Được biết như một nhà
giáo dục trẻ em hàng đầu hoặc từ chối như một người lạc hậu và không thích hợp,
các khảo sát và nghiên cứu của cô đã giúp thay đổi quy trình giáo dục.
Những người đã học với cô và tiếp tục đóng
góp cho giáo dục và tâm lý trẻ em là Anna Freud, Jean Piaget, Alfred Adler, và
Erik Erikson. Nhiều yếu tố của giáo dục hiện đại đã được điều chỉnh từ lý
thuyết của Montessori. Cô được tín nhiệm với sự phát triển các lớp mở, giáo dục
cá nhân hóa, dụng cụ học tập cầm tay, đồ chơi dạy học, và các hướng dẫn được
lập trình. Trong 35 năm qua, các nhà giáo dục ở châu Âu và Bắc Mỹ đã bắt đầu
nhận biết sự thống nhất giữa phương pháp Montessori với những gì chúng ta đã
biết qua nghiên cứu về sự phát triển của trẻ.
Maria Montessori đã vượt lên thời đại của cô.
Cô chào đời năm 1870 ở Ancona, nước Ý, trong một gia đình trung lưu có giáo dục
nhưng không giàu có. Cô lớn lên trong một quốc gia bảo thủ đối với phụ nữ, thậm
chí chống lại cha và giáo viên của cô, Montessori theo học ngành khoa học và là
phụ nữ đầu tiên trở thành bác sĩ ở Ý.
Là một bác sĩ thực tập cộng tác với Đại học
Rome, cô là nhà khoa học, không phải giáo viên. Thật mỉa mai là cô đã nổi tiếng
vì những đóng góp trong lãnh vực mà cô đã loại bỏ vào thời kỳ có rất ít nghề
nghiệp dành cho họ ngoài việc nội trợ hoặc vào tu viện. Phương pháp Montessori
phát sinh hầu như ngẫu nhiên từ một thí nghiệm nhỏ mà tiến sĩ Montessori thực
hiện bổ sung Nguyên nhân ban đầu không phải từ khả năng dạy học của cô, mà từ
sự nhận biết tầm quan trọng của những điều mà cô đã tình cờ gặp phải.
Là bác sĩ, tiến sĩ Montessori chuyên về nhi
khoa và tâm thần học. Cô đã dạy ở trường y khoa của Đại học Rome, và qua bệnh
viện miễn phí của trường, cô thường xuyên tiếp xúc với trẻ em của tầng lớp lao
động và nghèo. Những kinh nghiệm này thuyết phục cô rằng trí thông minh không
phải là hiếm và những đứa trẻ chào đời với khả năng rất ít khi được tiết lộ.
Công việc đã củng cố cho cô các lý tưởng về
con người, và cô đã dành thời gian hỗ trợ nhiều cải cách xã hội khác nhau. Khi
bước vào nghề, cô đã bắt đầu chấp nhận nói chuyện trên toàn châu Âu thay mặt
cho phụ nữ, các nỗ lực hòa bình, và cải cách luật lao động trẻ em. Montessori
trở nên nổi tiếng và được đánh giá cao trên khắp châu Âu, với những đóng góp
cho cộng đồng quanh các trường của cô.
Năm 1901, Montessori được chỉ định làm Giám
đốc của trường Orthophrenic thuộc Đại học Rome, trước đây được sử dụng làm
dưỡng trí viện cho các trẻ “thiểu năng và mất trí” trong thành phố, hầu hết là
chậm phát triển tinh thần hoặc tự kỷ. Cô
bắt đầu cải cách hệ thống trước đây hầu như chỉ sử dụng cho các trẻ tâm thần
trong các phòng trống. Nhận biết nhu cầu bắt chước, hoạt động có mục đích, và
tự đánh giá của bệnh nhân, Montessori đề nghị nhân viên nói chuyện với các bạn
với sự tôn trọng cao nhất. Cô lập ra chương trình để dạy các bệnh nhân trẻ cách
tự chăm sóc bản thân và môi trường của chúng.
Maria Montessori là
người gây tranh cãi trong ngành giáo dục ngày nay cũng như cách đây nửa thế kỷ
Đồng thời, cô bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ tất cả
các khảo sát về giáo dục đối với người bị bệnh tâm thần. Các nghiên cứu đã dẫn
Montessori đến với hai bác sĩ người Pháp của các thế kỷ mười tám và mười chín
hầu như đã bị quên lãng: Jean Itard và Edouard Seguin. Itard nổi tiếng nhất
trong sự nghiệp với “Cậu bé Hoang dã ở Aveyron”, một thiếu niên được tìm thấy
khi đang trần truồng lang thang trong rừng, đã sống một mình trong mười năm.
Cậu bé không biết nói và không có hầu hết các kỹ năng của cuộc sống hàng ngày.
Đây rõ ràng là một “người thiên nhiên”, một người đã phát triển không có các
lợi ích về văn hóa và xã hội. Itard hy vọng nghiên cứu này sẽ đưa ánh sáng vào
cuộc tranh luận về trí thông minh con người có bao nhiêu phần do di truyền và
bao nhiêu phần có được qua học tập.
Thí nghiệm của Itard có thành công giới hạn,
vì ông ta thấy “cậu bé hoang dã” không hợp tác và không muốn hoặc không thể học
hỏi nhiều thứ. Điều này khiến Itard mặc nhiên công nhận sự tồn tại của các giai
đoạn phát triển trong sự trưởng thành của con người. Trong các “giai đoạn nhạy cảm”
này, đứa trẻ phải học hỏi kinh nghiệm hoặc lớn lên mà không có các kỹ năng của
người lớn và trí thông minh bị bỏ qua ở giai đoạn chúng có thể học! Mặc dù
Itard nỗ lực dạy “cậu bé hoang dã” một cách không thành công, ông ta đã theo
một phương pháp lý thuyết để thiết kế quy trình, cho rằng mọi nền giáo dục sẽ
có lợi từ việc sử dụng cẩn thận sự quan sát và thí nghiệm.
Ý tưởng này đã hấp dẫn nhà khoa học
Montessori và sau đó trở thành cơ sở cho phương pháp của cô. Từ Edouard Seguin,
Montessori khẳng định thêm công việc của Itard, cùng với hệ thống được tổ chức
khoa học để áp dụng vào giáo dục hàng ngày cho trẻ khuyết tật. Ngày nay Seguin
được xem như cha đẻ của kỹ thuật giáo dục đặc biệt hiện đại.
Từ hai vị tiền bối này, Montessori đã có
phương pháp khoa học về giáo dục dựa trên quan sát và thí nghiệm. Cô thuộc vào
hệ “nghiên cứu về trẻ em”, và cô theo đuổi công việc với sự huấn luyện kỹ lưỡng
của nhà sinh vật học và hành vi tự nhiên của một con thú trong rừng. Cô nghiên
cứu các trẻ chậm phát triển, lắng nghe và ghi chú cẩn thận mọi việc chúng nói
và làm. Dần dần cô nhận biết cảm giác chúng thật sự là ai và phương pháp nào
tốt nhất. Thành công của cô đã được biết rộng rãi, sau khi cô bắt đầu được hai
năm, nhiều thanh niên “thiểu năng” của Montessori đã có thể vượt qua kỳ kiểm
tra lớp sáu của các trường công ở Ý. Trả lời cho “điều kỳ diệu” này, Montessori
nói rằng kết quả của cô chỉ chứng minh rằng các trường công lập có thể đạt được
kết quả tốt hơn đối với trẻ bình thường.
Thật không may, Bộ giáo dục Ý không hoan
nghênh ý tưởng này, và cô bị từ chối được tiếp xúc với các em ở tuổi đến
trường. Thất vọng vì những nỗ lực để tiến hành thí nghiệm với các học sinh
trường công lập, năm 1907 Montessori chuyển sang hợp tác với trung tâm chăm sóc
ban ngày cho các trẻ thuộc tầng lớp lao động chưa đủ tuổi vào trường công lập.
Casa dei Bambini đầu tiên hoặc còn gọi là
“Nhà Trẻ”, nằm trong quận nghèo nhất của Rome, và Montessori đối diện với những
điều kiện kinh khủng. Lớp học đầu tiên của cô có năm mươi em từ hai đến năm
tuổi, được dạy dỗ bởi một săn sóc viên không được huấn luyện.
Các em ở trong trung tâm từ bình minh đến
hoàng hôn trong khi cha mẹ chúng làm việc. Chúng được ăn hai bữa một ngày, được
tắm thường xuyên, và được chăm sóc y tế. Các em là điển hình của dân nghèo
thành thị. Ngày đầu tiên vào Nhà Trẻ, chúng la khóc và dẫy dụa, có thái độ hung
hăng và nóng vội. Montessori không chắc chắn là kinh nghiệm của cô có tác dụng
trong điều kiện như vậy hay không, đã bắt đầu dạy những đứa lớn hơn cách giúp
đỡ trong công việc hàng ngày cần phải làm. Cô cũng giới thiệu các trò chơi giải
đố bằng tay mà cô đã sử dụng với các em thiểu năng.
Các kết quả đã làm cô ngạc nhiên, vì không
giống như những đứa trẻ thiểu năng cần phải thúc đẩy sử dụng dụng cụ, các đứa
trẻ này tự thực hiện công việc cô đã giới thiệu. Các em đã đi lang thang tuần
trước đã bắt đầu ngồi lại rất lâu để thực hiện hoạt động xây dựng. Chúng say mê
với các trò giải đố và dụng cụ huấn luyện nhận thức. Nhưng, trước sự kinh ngạc
của Montessori, các em nhỏ thích thú trong việc học các kỹ năng sống thực tế
hàng ngày để củng cố tính độc lập của chúng.
Mỗi ngày chúng lại xin cô dạy nhiều hơn, thậm
chí vỗ tay vui mừng khi Montessori dạy chúng cách sử dụng khăn tay. Chẳng bao
lâu sau những em lớn đã chăm sóc trường, giúp giáo viên chuẩn bị và phục vụ các
bữa ăn và giữ môi trường không một vết bẩn.
Thái độ của chúng trong nhóm thay đổi rất
nhiều, từ những đứa trẻ đường phố bụi đời trở thành những em duyên dáng và lịch
sự. Một tờ báo đã tìm thấy câu chuyện hấp dẫn này và nhanh chóng phổ biến nó
toàn thế giới.
Cách giáo dục của Montessori đôi khi bị chỉ
trích vì quá cấu trúc và yêu cầu lý thuyết đối với các em nhỏ. Montessori cười
to trước ý kiến này. Cô thường nói “Tôi nghiên cứu các em nhỏ của tôi, và chúng
dạy tôi cách dạy chúng”. Montessori chú ý kỹ các hành vi tự phát của chúng, cho
rằng bằng cách đó giáo viên sẽ biết cách dạy. Thông thường, các trường ít chú ý
đến các em như những thực thể riêng biệt, mà thường ra lệnh chúng điều chỉnh
theo các tiêu chuẩn.
Montessori cho rằng công việc của nhà giáo
dục là phục vụ các em, xem xét điều gì cần để tạo tiến bộ nhiều nhất. Đối với
cô, những đứa trẻ thất bại ở trường không nên bị chê bai, giống như bác sĩ chê
bệnh nhân không phục hồi nhanh. Công việc của bác sĩ là tìm cách tự chăm sóc và
công việc của nhà giáo dục là tạo điều kiện cho quy trình học tập tự nhiên.
Các trẻ em của Montessori đòi học chữ. Vì quá
nhỏ để đi học, chúng xin cô dạy cách đọc và viết. Chúng học thật nhanh và thật
say mê, sử dụng các dụng cụ cầm tay mà Montessori thiết kế một cách hấp dẫn
nhất và hiệu quả nhất. Các em say mê với các con số; để đáp ứng yêu cầu này,
Montessori thiên về toán học đã thiết kế một loạt các dụng cụ học toán cụ thể
mà chưa ai vượt qua được. Chẳng bao lâu các em bốn và năm tuổi đã thực hiện
được các phép cộng và trừ bốn con số và nhiều khi còn vượt xa hơn.
Niềm say mê của chúng cũng lan đến các lãnh
vực khác, khiến vị bác sĩ phải bỏ nhiều đêm để thiết kế các dụng cụ mới cho các
em ở các môn hình học, địa lý, lịch sử và khoa học tự nhiên.
Bằng chứng cuối cùng về niềm say mê của các
em đã đến sớm sau khi trường học đầu tiên của cô trở nên nổi tiếng, khi một
nhóm phụ nữ đến tặng chúng rất nhiều đồ chơi đáng yêu và đắt tiền. Các món quà
mới khiến chúng quan tâm vài ngày, nhưng sau đó chúng trở lại với các dụng cụ
học tập thú vị hơn. Trước sự ngạc nhiên của Montessori, các em đã có kinh
nghiệm cả hai, đã chọn làm việc thay vì chơi hầu hết thời gian. Nếu hôm nay cô
có mặt ở đây, có lẽ Montessori sẽ thêm rằng: Các em đọc và làm toán nâng cao ở
các trường Montessori không phải vì chúng tôi thúc đẩy, mà vì chúng được tạo
đúng cơ hội và thiết kế. Chúng ta từ chối quyền được học của chúng vì chúng ta,
những người lớn, nghĩ rằng chúng không nên làm trái với cách mà các trường
trước đây đã sử dụng.
Montessori đã phát triển phương pháp qua thử
nghiệm và tạo lỗi, dự đoán về ngụ ý trong hành động của các em. Cô nhanh chóng
nắm bắt những ý tưởng, và liên tục thử nghiệm với lớp.
Ví dụ, Montessori kể về buổi sáng khi giáo
viên đến trễ, đã thấy các em trườn qua cửa sổ và bắt tay làm việc ngay. Ban đầu
dụng cụ học tập chế tạo rất đắt tiền, được khóa trong một tủ cao. Chỉ có giáo
viên có chìa khóa và mở nó và trao dụng cụ cho các em theo yêu cầu. Trong
trường hợp này, giáo viên đã quên khóa cửa tủ vào đêm trước. Khi thấy cửa mở,
các em đã chọn một dụng cụ và làm việc một cách yên lặng. Khi Montessori đến,
giáo viên đang trách mắng các em vì đã lấy dụng cụ mà chưa xin phép. Cô nhận
thấy các em đã có khả năng chọn công việc riêng của mình, nên đã thay tủ bằng
các kệ mở, thấp để các hoạt động lúc nào cũng sẵn sàng cho các em. Ngày nay
điều đó có vẻ chỉ là một thay đổi nhỏ, nhưng nó đi ngược lại tất cả lý thuyết
và thực tiễn giáo dục vào thời đó.
Hết khám phá này đến khám phá khác,
Montessori ngày càng hiểu rõ hơn về suy nghĩ bên trong của trẻ. Cô thấy rằng
các em nhỏ có khả năng tập trung lâu và yên lặng, mặc dù chúng ít khi có biểu
hiện đó hàng ngày. Dù chúng thường bất cẩn và cẩu thả, chúng đáp ứng một cách
tích cực với bầu không khí yên tĩnh và trật tự. Montessori nhận thấy rằng tình
yêu của trẻ đối với một thói quen thường lập lại chính là môi trường mà mọi thứ
đều trật tự.
Các đứa trẻ của cô hết sức vui thích khi cẩn
thận mang công việc của chúng đến và từ các kệ, cố gắng không va chạm hay làm
rơi một mảnh nhỏ. Chúng đi cẩn thận qua các phòng, thay vì chạy điên cuồng như
chúng làm trên đường. Montessori thấy rằng môi trường rất quan trọng trong các
kết quả mà cô quan sát. Không sử dụng bàn làm việc của trường, cô đã nhờ thợ
mộc đóng các bàn và ghế với kích thước trẻ em. Cô là người làm điều này khi
nhận biết sự bực mình của trẻ nhỏ trong thế giới có kích thước người lớn.
Dần dần cô học cách thiết kế toàn trường theo
kích thước trẻ em. Cô có các bình và chén nhỏ và tìm được các con dao vừa với
bàn tay bé xíu. Các bàn nhẹ, cho phép hai em có thể di chuyển chúng. Các em học
cách kiểm soát chuyển động, không thích phá vỡ sự yên lặng khi đụng vào đồ vật.
Montessori cũng nghiên cứu mô hình di chuyển giữa các phòng, sắp xếp đồ đạc và
các khu vực hoạt động để giảm thiểu sự tắt nghẽn khi hoạt động.
Các em thích ngồi trên sàn nhà, nên cô mua
những tấm thảm nhỏ để xác định các khu vực làm việc, và các em nhanh chóng học
cách di chuyển chung quanh chúng.
Qua nhiều năm, các trường Montessori mang môi
trường được thiết kế này đến toàn thể tòa nhà và môi trường chung quanh, thiết
kế nhà vệ sinh có kích thước trẻ em, bồn rửa thấp, cửa sổ gần mặt đất, kệ thấp,
tất cả các loại công cụ cầm tay và làm vườn nhỏ. Một số ý tưởng này dần dần
được sử dụng bởi các cộng đồng giáo dục lớn hơn, đặc biệt ở cấp nhà trẻ và mẫu
giáo. Nhiều dụng cụ giải đố và giáo dục hiện được sử dụng ở cấp mẫu giáo và
tiểu học là các bản sao trực tiếp ý tưởng ban đầu của Montessori. Tuy nhiên, có
nhiều công việc của cô chưa bao giờ được sử dụng, và các nhà giáo dục đang tìm
các câu trả lời mới, hiệu quả đã tìm thấy kinh nghiệm được tích lũy từ cộng
đồng Montessori là điều thú vị lớn lao.
“Nhà Trẻ” đầu tiên của Maria Montessori được
chú ý đặc biệt, và hàng ngàn người khách đã kinh ngạc và say mê. Sự quan tâm
của thế giới đã tăng lên khi cô nhân đôi ngôi trường đầu tiên bằng những thiết
kế khác có cùng kết quả. Montessori nắm bắt sự thích thú và trí tưởng tượng của
các lãnh đạo và nhà khoa học trong nước, các bà mẹ và giáo viên, các lãnh đạo
công nhân và chủ nhà máy. Như một nhà khoa học quốc tế được kính trọng,
Montessori đã có sự tín nhiệm hiếm thấy trong môi trường mà nhiều người khác đã
có những ý tưởng, triết lý, và mô hình chưa được sẵn sàng nhân đôi. Phương pháp
Montessori cung cấp phương pháp có hệ thống giới thiệu rất rõ các thiết kế mới.
Trong 35 năm đầu của thế kỷ này, phương pháp Montessori dường như đã cung cấp
một điều gì đó cho mọi người. Các nhà bảo thủ đánh giá cao thái độ trầm tĩnh,
có trách nhiệm của các em nhỏ, cùng với công việc của chúng. Đảng Tự do tán
thưởng sự tự do và tính tự phát. Nhiều lãnh đạo chính trị xem đó là là một cách
thực tế để cải cách hệ thống trường học đã lỗi thời ở châu Âu và Bắc Mỹ, cũng
như phương pháp mà họ hy vọng sẽ dẫn đến một xã hội tôn trọng luật pháp và hữu
ích. Các nhà khoa học ca ngợi nền tảng cao cấp của nó, và tôn vinh thành tựu
của các em nhỏ. Montessori đã dấy lên một làn sóng hỗ trợ cuồng nhiệt có thể
làm thay đổi bề mặt của giáo dục xa hơn những gì hiện có.
Giai đoạn hiệu quả nhất của Montessori kéo dài từ lúc mở cửa Nhà Trẻ đầu
tiên năm 1907 cho đến những năm 1930. Trong thời gian này, cô tiếp tục nghiên
cứu về trẻ em, và phát triển chương trình giảng dạy và phương pháp học cho bậc
tiểu học. Các trường Montessori được lập trên toàn châu Âu và Bắc Mỹ, và tiến
sĩ Montessori từ bỏ công việc y khoa để dồn sức vào việc thiết lập quyền hạn và
tiềm năng trí tuệ cho tất cả trẻ em. Trong cuộc đời của cô, tiến sĩ Montessori
được biết đến như một nhà giáo dục hàng đầu. Việc giáo dục đã vượt qua Maria
Montessori, chỉ điều chỉnh các yếu tố trong công việc của cô để thích hợp với
các lý thuyết và phương pháp hiện có.
Mỉa mai thay, phương pháp Montessori không
được thực hiện như một chuỗi các cải cách từng phần. Nó đòi hỏi sự cải cách
toàn bộ trường học và vai trò của giáo viên. Chỉ mới gần đây, khi hiểu biết về
sự phát triển của trẻ tăng lên, người ta mới thấy rõ sự nhạy cảm và sáng suốt
của cô. Ngày nay các nhà tâm lý học và giáo dục tinh thần mới nhất trí rằng nhiều
ý tưởng của cô đã đi trước thời đại của cô nhiều thập kỷ. Khi công việc của cô
nhận được sự hỗ trợ và bắt đầu lan rộng trong khu vực trường công lập ở Hoa Kỳ,
mọi người có thể nói rằng Montessori đã bắt đầu gần 100 năm trước, là một
phương pháp hiện đại đáng quan tâm.
Tại sao họ gọi đó là “Nhà Trẻ?”
Trong các khảo sát
của mình, tiến sĩ Montessori lưu ý các tính cách đặc biệt liên quan đến sự quan
tâm và khả năng của trẻ ở từng giai đoạn phát triển. Cô cho rằng một trường
được thiết kế cẩn thận đã đáp ứng các nhu cầu và sự quan tâm của trẻ sẽ làm
việc hiệu quả hơn vì chúng không đi ngược lại tính cách con người. Montessori
dạy các giáo viên cách “đi theo trẻ” qua các quan sát cẩn thận, cho phép từng
học sinh phô bày các ưu và khuyết điểm, sự quan tâm và lo âu, và các chiến lược
hoạt động tốt nhất để tạo thuận tiện cho việc phát triển tiềm năng con người.
Việc tập trung vào “toàn bộ đứa trẻ” đưa tiến
sĩ Montessori đến việc phát triển một loại trường rất khác với các lớp truyền
thống tập trung vào người lớn. Để nhấn mạnh sự khác biệt này, cô đã đặt tên cho
ngôi trường đầu tiên là “Casa dei Bambini” hoặc là “Nhà Trẻ”.
Có vài điểm sâu sắc trong cách chọn từ của
cô, vì lớp học Montessori không phải là lãnh địa của người lớn, mà là môi
trường được thiết kế cẩn thận để tạo thuận tiện cho sự phát triển tính độc lập
và ý thức của trẻ. Đây là cộng đồng của
trẻ em. Chúng tự do di chuyển trong đó, chọn công việc chúng ưa thích. Ngay cả
đứa nhỏ nhất cũng giúp chăm sóc môi trường. Khi chúng đói, chúng tự chuẩn bị
món ăn. Chúng vào nhà tắm không cần giúp đỡ. Khi có thứ gì bị rơi đổ, chúng
giúp nhau lau chùi cẩn thận.
Bốn thế hệ phụ huynh đã kinh ngạc thấy các em
nhỏ trong các lớp Montessori cắt trái cây và rau cải, quét và hút bụi, mang các
bình nước và đổ chất lỏng mà không làm rớt một giọt. Các em thường di chuyển
một cách yên lặng và có mục đích khiến cho nhà quan sát nghĩ rằng chúng là
“những người thầy của ngôi nhà”.
“Nhà Trẻ” đầu tiên của Montessori mở cửa vào
năm 1907, dành cho 60 trẻ em trong thành phố, phần đông đến từ các gia đình
khác nhau. Trong quyển sách Phương pháp
Montessori, tiến sĩ Montessori mô tả sự chuyển biến diễn ra trong vài tháng
đầu, như các em phát triển thành một “gia đình”. Chúng chuẩn bị và phục vụ các
bữa ăn hàng ngày, rửa bình và đĩa, giúp các em nhỏ hơn tắm và thay quần áo,
quét dọn, lau chùi, và làm việc trong vườn.
Các em rất nhỏ này phát triển ý thức của người lớn và sự nối kết giúp
chúng nhận biết tiềm năng con người ở mức cao hơn.
Khi thời gian thay đổi, nhu cầu liên kết vẫn
còn rất mạnh. Thật ra, đối với trẻ em ngày nay điều đó còn quan trọng hơn.
Montessori trao cho học sinh mẩu tin rằng ngôi trường của chúng giống như gia
đình thứ hai. Nhiều học sinh Montessori mô tả kinh nghiệm thành lời tương tự
như bài viết của Frances Merenda, tốt nghiệp trường Barrie School ở Silver
Spring, Maryland năm 1990.
“Tôi
bắt đầu học ở Montessori năm lên 2, tôi là một sản phẩm của toàn hệ thống. Tôi
làm tốt ở các lớp dưới và ở trường cấp trên. Nhưng nhiều người vẫn thắc mắc là
tôi có được chuẩn bị cho đại học chưa, tôi có thể “làm tốt” ở một “ngôi trường
thật sự” không. Thái độ hoài nghi của nhiều người quen rất bối rối, nhưng tôi
không bao giờ ngại nhìn lại 15 năm tin tưởng, tôn trọng, học tập và dạy dỗ đã
làm cho tôi. Khi tôi rời Đại học Northwestern University, tôi để hệ thống hỗ
trợ và cộng đồng của tôi lại và bước vào thế giới lạnh lùng và không quan tâm
hơn nhiều. Đầu tiên, tôi nhớ sâu sắc cảm giác thuộc về một nơi nào đó. Tôi đã
không biết rằng Barrie đã không chỉ cho tôi một gia đình thứ hai, mà còn dạy
tôi cách xây dựng tình bạn, hỗ trợ hệ thống và cộng đồng nơi tôi đến. Bây giờ ở
Northwestern, tôi đã sử dụng những năm kinh nghiệm của tôi để xây dựng cộng
đồng, tạo quan hệ chặt chẽ với những người tôi đã biết. Barrie đã làm nhiều hơn
là chỉ chuẩn bị cho tôi vào đại học, nó đã chuẩn bị mọi thứ mà tôi có thể chọn để áp dụng. Tôi cảm
thấy đã được chuẩn bị cho cuộc sống và tôi không muốn bất kỳ con đường nào
khác.”
Môi trường được chuẩn bị
Các lớp Montessori thường làm say mê các em
và phụ huynh. Chúng thường sáng sủa, ấm áp, mời gọi, đầy cây cỏ, thú vật, tranh
vẽ, âm nhạc, và sách. Chúng là các trung tâm gây thích thú đầy những dụng cụ
học tập hấp dẫn, mô hình toán học, bản đồ, biểu đồ, hóa thạch, dữ kiện lịch sử,
máy tính, dụng cụ khoa học, có lẽ có một
viện bảo tàng thiên nhiên thu nhỏ, và các con thú do các em nuôi.
Lớp học Montessori thường được xem như một
môi trường được chuẩn bị. Cái tên này phản ánh sự quan tâm chăm sóc để tạo nên
môi trường học tập, củng cố sự độc lập và phát triển trí tuệ của các em.
Bạn sẽ không thấy các dãy bàn trong lớp học
Montessori. Các lớp được thiết kế để tạo sự thuận tiện cho học sinh thảo luận
và kích thích việc hợp tác học tập. Chỉ cần nhìn và sẽ thấy là các em cảm thấy
thoải mái và an toàn.
Lớp học Montessori được tổ chức thành các khu
vực giảng dạy, thường bao gồm: nghệ thuật ngôn ngữ (đọc, văn chương, ngữ pháp,
viết sáng tác, đánh vần, và chữ viết tay), toán và hình học, kỹ năng sống hàng
ngày, các bài tập về giác quan và giải đố, địa lý, lịch sử, khoa học, vẽ, âm
nhạc và chuyển động. Hầu hết các phòng sẽ bao gồm một thư viện lớp. Mỗi khu vực
có một hoặc nhiều kệ, tủ, và các bàn trưng bày với nhiều dụng cụ trên giá mở,
sẵn sàng để các em sử dụng.
Ta thường thấy học sinh rải rác trong lớp,
làm việc một mình hoặc với một hoặc hai đứa khác. Chúng thường có vẻ chú ý đến
công việc và khách viếng sẽ ngạc nhiên vì không khí hòa bình.
Có thể mất một lúc để tìm các giáo viên trong
môi trường. Họ thường làm việc với một hoặc hai em một lúc, cố vấn, trình bày
bài học mới, hoặc im lặng quan sát lớp làm việc.
Tại sao Montessori lại xếp các em thành những lớp nhiều độ tuổi
như vậy?
Một lớp Montessori
tiêu biểu thường có 25 đến 35 em, được chia đồng đều giữa trai và gái, với cách
biệt nhau khoảng ba tuổi. Thực tế này là dấu hiệu phân biệt của phương pháp
Montessori trong gần 100 năm. Các lớp thường được dạy bởi một giáo viên
Montessori có bằng cấp cùng với một hoặc các phụ tá hoặc bởi hai giáo viên
Montessori.
Các lớp thường là những cộng đồng ổn định,
chỉ có ba em lớn nhất được chuyển lên lớp trên mỗi năm. Với hai phần ba em trở
về mỗi mùa thu, Montessori khuyến khích một quan hệ rất khác biệt giữa các em
và các bạn cùng tuổi, cũng như giữa các em và giáo viên.
Các cấp thường thấy ở trường Montessori tương
ứng với mức độ phát triển của trẻ em:
Sơ sinh: (mới sinh đến 18 tháng)
Chập chững đi (18 tháng đến 3 tuổi)
Thơ ấu (tuổi từ 3-6)
Tiểu học cấp thấp (từ 6-8)
Tiểu học cấp cao (từ 9-11)
Đầu bậc trung học (từ 12 -14)
và Trung học (từ 15-18)
Ở mỗi cấp, chương trình học và giảng dạy sẽ
hợp lý và thích hợp với những gì đã có từ trước.
Nhiều trường mẫu giáo tự hào về kích thước
rất nhỏ của mình, và phụ huynh thường thắc mắc tại sao các lớp Montessori lại
lớn hơn nhiều như vậy.
Các trường đặt các em lại với nhau thành nhóm
nhỏ cho rằng giáo viên là nguồn hướng dẫn: một tài nguyên rất giới hạn thậm chí
trong một lớp nhỏ. Các trường này cho rằng khi số học sinh giảm, thời gian giáo
viên dành cho từng em sẽ tăng lên. Tốt nhất, chúng ta nên có giáo viên kèm cho
từng em.
Nhưng “giáo viên” giỏi nhất của một em ba
tuổi thường là một em khác chỉ lớn hơn một chút và đã nắm vững một kỹ năng. Quy
trình tốt cho cả người dạy lẫn đứa nhỏ hơn. Trong phương pháp Montessori, giáo
viên không phải là nhân vật chính.
Montessori khuyến khích các em học hỏi lẫn
nhau. Khi có đủ trẻ em trong một nhóm tuổi, tất cả học sinh sẽ thấy những trẻ
khác, trên và dưới cấp phát triển hiện tại của mình. Điều này cũng khiến cho
các trường Montessori tồn tại một cách kinh tế hơn, cho phép các trường thu hút
giáo viên có kinh nghiệm và được huấn luyện tốt hơn nhiều.
Một số phụ huynh lo ngại rằng khi có các em
nhỏ tuổi hơn trong cùng một lớp với các em lớn hơn, một nhóm tuổi này hoặc nhóm
khác sẽ bị lừa bịp. Họ sợ rằng các em nhỏ hơn sẽ lấy hết thời gian và sự quan
tâm của giáo viên, hoặc sự quan trọng của chương trình giảng dạy cấp mẫu giáo
cho trẻ năm tuổi sẽ ngăn việc hỗ trợ tình cảm cho các em ba và bốn tuổi và sự
khuyến khích mà chúng cần. Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng cả hai lo ngại
trên là sai lầm và tôi không thể tưởng tượng việc dạy theo cách nào khác.
Có một số thuận lợi rõ ràng cho mô hình lớp
học Montessori.
Trong một lớp Montessori được thành lập và
quản lý tốt, các em thường độc lập và có kỷ luật hơn. Một yếu tố tạo ra điều
này là mỗi lớp học sinh của giáo viên không bỏ lớp vào cuối năm học.
Các em thường vào trường lúc lên ba và lưu
lại trong một chu kỳ ba năm trước khi chuyển sang một lớp Montessori ở lứa tuổi
6-9 năm đầu tiên. Với hai phần ba học sinh trở lại sau mỗi Tháng chín, văn hóa
lớp vững vàng một cách đáng ngạc nhiên.
Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt: không
có hai em giống nhau. Thậm chí với các tỷ lệ giáo viên-học sinh nhỏ nhất, mỗi
người có sự quan tâm, khả năng, các ưu và khuyết điểm riêng. Mỗi em học theo
tốc độ riêng và sẽ sẵn sàng cho bất kỳ bài học nào theo thời gian riêng của
chúng, không theo lịch giảng bài của giáo viên. Mỗi đứa trẻ có một cách học
riêng. Các giáo viên Montessori đối xử với từng em một cách riêng rẽ và điều
chỉnh bài học để thích hợp với nhu cầu, tính cách và sự quan tâm.
Vì Montessori cho phép các em tiến bộ qua
chương trình giảng dạy theo tốc độ riêng, không có lý do giáo dục nào để tập
họp các em theo cùng một cấp lớp.
Trong một lớp hỗn hợp, các em luôn có thể tìm
thấy các bạn cùng tuổi đang làm việc cùng một cấp lớp. Làm việc trong một lớp
trong hai hoặc ba năm cho phép học sinh phát triển một ý tưởng cộng đồng mạnh
mẽ với giáo viên và các bạn cùng lớp. Độ tuổi cũng tạo cho các em có năng khiếu
đặc biệt kích thích các bạn cùng tuổi, mà không cần nhảy lớp và cảm thấy lạc
lỏng. Để đáp ứng nhu cầu của từng học sinh, các lớp Montessori có chương trình
giảng dạy phù hợp với sự quan tâm và khả năng của các em lớn tuổi nhất và tiếp
thu nhanh nhất trong lớp. Điều này tạo ra môi trường học tập phong phú nhất.
Trong các lớp nhiều cấp, các em nhỏ hơn luôn
bị kích thích bởi công việc thú vị mà các em lớn đang thực hiện.
Đồng thời, trong các lớp nhiều cấp, các em
lớn hơn hoạt động như người dạy kèm và mô hình mẫu cho các em nhỏ hơn, giúp
chúng thành thạo hơn (chúng ta có thể học tập tốt nhất khi chúng ta dạy lại một
người nào đó) và cho chúng có quyền được tự hào.
“Một
trong những kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi, một đứa trẻ Montessori là cảm giác
gia đình tôi có được với bạn học và giáo viên. Không giống các trường truyền
thống, nơi tôi phải chuyển sang lớp mới với giáo viên mới mỗi năm, tôi đã có
một sự tiếp tục tuyệt vời. Khi tôi chuyển từ lớp 3-6 lên lớp tiểu học, tôi di
chuyển cùng một nhóm học sinh mà tôi đã cùng học trong ba năm. Chúng tôi cùng
học với nhau trong sáu năm kế tiếp. Ngày nay, sau gần hai mươi năm, tôi có thể
nói với bạn rằng bạn học của tôi đang ở đâu và họ đang làm gì. Hơn nữa, giáo
viên của tôi, cô Fleck và tôi vẫn rất gần gũi nhau. Thật ra, cháu nội cô ấy học
trong lớp đầu tiên với tôi khi tôi trở thành giáo viên Montessori!
Khi rời
Montessori, tôi không còn tìm được trải nghiệm nào như thế ở những trường công
và tư mà tôi đến. Ở đó, tôi cảm thấy rằng tôi chỉ là một cái tên trong danh
sách thay vì một cá nhân quan trọng. Trong lớp Montessori của tôi, mỗi người
chúng tôi là một người riêng biệt và đặc biệt, và chúng tôi cùng tạo ra một gia
đình rất đặc biệt. Đây là một trải nghiệm sẽ luôn còn mãi trong tôi.”
--Dorothy Hamilton
Porcher
Montessori
Child, Montessori Teacher
Các dụng
cụ Montessori: Con đường từ Suy nghĩ Cụ thể đến Trừu tượng
Tất cả trẻ em và hầu
hết người lớn học tốt nhất qua trải nghiệm trực tiếp và quy trình điều tra và
khám phá. Hầu hết học sinh không nhớ
hoặc thật sự hiểu thấu những gì họ “học” qua sự ghi nhớ.
Hỏi một đứa trẻ ngồi lại và theo dõi một giáo
viên thực hiện một quy trình hoặc thí nghiệm cũng giống như yêu cầu một đứa trẻ
một tuổi đừng bỏ gì vào miệng. Các em cần sử dụng tay và khám phá mọi thứ mà
chúng quan tâm. Điều mỉa mai là hầu hết các trường vẫn dạy chủ yếu qua lời nói,
sách bài tập, sách giáo khoa, với các học sinh bỏ ra nhiều ngày tại bàn học cầu
cho chuông reo.
Tiến sĩ Montessori nhận biết rằng phương pháp
học cụ thể làm cho việc học thú vị hơn nhiều. Các dụng cụ học tập Montessori
không phải là phương pháp; chúng chỉ là các công cụ mà chúng ta sử dụng để kích
thích trẻ suy nghĩ hợp lý và khám phá.
Các dụng cụ Montessori gây kích thích và đơn giản, mỗi thứ được thiết kế
cẩn thận để thu hút các em ở từng cấp độ phát triển.
Một khái niệm quan trọng là từng độ tuổi
trong chương trình giảng dạy Montessori có bộ sưu tập các dụng cụ được xác định
kỹ, tương đương với các chương ở một sách giáo khoa truyền thống. Các dụng cụ
tách biệt nhau và dạy một khái niệm hoặc kỹ năng một lúc. Trong việc phát triển
dụng cụ, Tiến sĩ Montessori cẩn thận phân tích các kỹ năng và khái niệm liên
quan đến từng môn học và lưu ý quy trình để các em dễ dàng nắm vững chúng. Sau
đó cô nghiên cứu cách các em có thể dễ dàng nắm vững các khái niệm trừu tượng
và thiết kế từng yếu tố để biến các mẫu trừu tượng thành cụ thể.